ThS. Nguyễn Thị Oanh (ĐH Mở TPHCM): Cốt yếu là phương pháp gợi mở của thầy
Tôi rất bất ngờ khi học môn nặng lý thuyết như xã hội học nhập môn nhưng bà giáo không giảng. Bà đưa vài câu hỏi cho lớp cùng thảo luận và tổng hợp lại chừng 15 phút. Và khoảng vài bài thảo luận như thế là kết thúc một chương học.
Bà giáo này, khi trao đổi với SV không bao giờ tỏ ý phản đối, bà luôn lắng nghe, có vẻ như “ba phải” đồng tình. Nhưng thực ra đây là cách bà khiến sinh viên mạnh dạn, không sợ nói trật. Chỉ khi tổng hợp, bà mới khéo léo phân tích cho SV nhận ra mình đúng, sai như thế nào mà không mặc cảm. Nhờ thế, không khí lớp học rất thú vị, tự nhiên.
Một nhà giáo khác dạy môn Tâm lý nhóm, không một bài giảng, không giáo trình hay đọc thêm. Cô chia học sinh thành nhiều nhóm nhỏ và yêu cầu: “Các em cứ sinh hoạt nhóm theo ý muốn trong 6 buổi và báo cáo xem việc gì xảy ra”.
Sau những tranh cãi, giận hờn, hoà giải tưởng như môn học... thất bại nhưng kết thúc, khi bà giáo tổng hợp lại, phân tích, SV vỡ lẽ ra về sự hình thành phát triển một nhóm nhỏ, quá trình tương tác các nhóm viên và mâu thuẫn, hoà giải, hợp tác... Đó chính là kiến thức toàn bộ nội dung môn học.
Để tạo ra môi trường học tập tốt, tất cả phụ thuộc vào khả năng của người thầy. Bởi không có trò thụ động, chỉ có thầy không khơi dậy tiềm năng to lớn của trò mà thôi.
TS. Phạm Đình Nghiệm (ĐH KHXH&NV TPHCM): Cần “chống” và “xây” phù hợp
Sinh viên ở đại học Việt Nam hiện nay, đặc biệt là sinh viên ngành khoa học xã hội và nhân văn còn thụ động trong tư duy.
Có các nguyên nhân: Một là, sự thống trị lâu đời, ảnh hưởng của Nho giáo, tư tưởng tiểu nông từ các thời ông bà, cha mẹ truyền sang con. Hai là, ở trường phổ thông chỉ được học thiên về lý thuyết, cách giảng giải của thầy cô thiếu gợi mở và nặng áp đặt dẫn tới phần nhiều học sinh có tâm lý chờ nghe theo giảng giải của thầy cô mà không cần phản biện. Nguyên nhân thứ ba là, đặc biệt nhiều môi trường đại học Việt Nam giống với trường phổ thông cấp 4 hơn là đại học thật sự.
Các trường cao đẳng, đại học chỉ có thể khắc phục được nguyên nhân thứ ba, cũng là nguyên nhân quan trọng nhất. Việc khắc phục này trên tinh thần vừa “chống” vừa “xây”, nghĩa là, chống lại cách đào tạo ra những tư duy thụ động ở phổ thông nhưng bản thân giảng viên đại học phải xây dựng một cách dạy độc lập, khuyến khích phản biện, đào tạo những con người tư duy độc lập.
GS. Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Đại học Brighton (Vương quốc Anh) và UBI (Vương Quốc Bỉ): Study còn có nghĩa là thư giãn
Học (study) theo nghĩa của Việt Nam là chép, là bắt chước, là làm theo. Tuy nhiên, từ study có nguyên ngữ cổ Hy Lạp lại là skohlê, có nghĩa là thư giãn. Hiểu được theo nghĩa này, môi trường học, việc học không còn là khó khăn, gian truân mà là niềm vui, là động lực tinh thần giúp con người ta lớn mạnh.
Môi trường học tập cần theo định hướng đó, trước hết phải có sự vui thú, hứng khởi, có niềm tin thì mới tạo ra sự chủ động, mới học tốt được.
Giảng viên Trần Kỳ Đồng (ĐH KHXH&NV): Phải biết lựa chọn đúng và yêu ngành học
Xuất phát điểm phải tạo cho người học biết cách tiếp cận kiến thức một cách chủ động thì dần dần mới hình thành tư duy chủ động. Muốn như thế, việc đầu tiên mà sinh viên cần có là chủ động trong việc chọn lựa ngành học, mà yếu tố quan trọng là phải yêu thích ngành học.
Bên cạnh đó, giáo dục đại học không chỉ là việc truyền bá kiến thức mà cần tạo cho sinh viên xác định rõ mục đích sống, ý nghĩa sống và phương thức tạo nguồn năng lực sống cho chính bản thân mình. Nói ngắn gọn là giáo dục con người.
Đây là vấn đề quan trọng, bởi bậc đại học nước ta hiện là “đào tạo người làm thuê chứ chưa đào tạo được người làm chủ”.
Theo Thu Hương
Vietnamnet