Nguy cơ trắng tay sau khi thu hồi đất
Ông Đỗ Minh Tựu, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, Hưng Yên tâm sự: Trước khi bị thu hồi đất, 100% thu nhập của gia đình tôi là sống nhờ nông nghiệp. Sau khi bán đất cho Nhà nước, tôi được một số tiền gần 7 triệu đồng/sào (19.300 đồng/m2).
Số tiền ấy quá thấp, không đủ sống 1 năm, việc làm cũng không kiếm được. Nhiều gia đình quá khó khăn về việc làm, con cái lêu lổng vì khu công nghiệp chỉ đủ giải quyết 5% số lao động mất đất còn dân phải tự bươn trải kiếm sống”.
Tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng, thu nhập giảm sút thường xảy ra ở các hộ thuần nông nghiệp. Số lao động này của các hộ này đa số không có khả năng tìm việc làm hoặc chuyển sang nghề kinh doanh mới.
Một thực trạng không hiếm là nguy cơ “trắng tay” khi sử dụng hết tiền đền bù đất. Bức xúc này không nhỏ và không phải chỉ của riêng những người bị thu hồi đất mà còn mang tính xã hội rất cao.
Một cuộc khảo sát mới đây tại TPHCM, Hưng Yên và Thái Bình cho thấy, khoảng 56% số hộ có phương án sử dụng tiền đền bù cho mục tiêu chủ yếu dành cho phát triển kinh tế và một phần cho tiêu dùng.
Một số hộ không kinh doanh chiếm khoảng 12% thì chọn phương thức gửi tiền vào quỹ tiết kiệm để lấy lãi ăn dần. Tuy nhiên, tiền lãi này không nhiều vì vậy thu nhập của người dân bị giảm sút nghiêm trọng so với sản xuất nông nghiệp trước đây.
Ngoài ra, không ít những người đã tiêu xài một cách “hào phóng” những đồng tiền cuối cùng khi bán đất cho Nhà nước vào đời sống sinh hoạt, thậm chí có thể nói là xa xỉ, kể cả những tệ nạn như cờ bạc, rượu chè… Nhóm này chiếm khá cao tới 31,9% số hộ được khảo sát tại 3 địa phương.
Bởi vậy, vấn đề đặt ra là nhà nước cần có những chính sách như thế nào để giảm thiểu những tác động về tài chính từ việc thu hồi đất trong dân.
Chi trả tiền đền bù qua ngân hàng theo định kỳ có phải là giải pháp tốt?
Mới đây, Bộ TNMT đã có tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành luật Đất đai. Theo đó, trong Nghị định 197/2004/NĐ-CP sẽ bổ sung quy định về phương thức chi trả tiền bồi thường theo hướng:
“Trường hợp bị thu hồi toàn bộ diện tích đất mà nguồn thu nhập chính của hộ gia đình, cá nhân là từ diện tích đất bị thu hồi và không có nguồn thu nhập ổn định nào khác thì tiền bồi thường được gửi vào tổ chức tín dụng (hoặc quỹ bảo hiểm xã hội) và được chi trả 6 tháng một lần để đảm bảo mức sống bình thường”.
Rõ ràng, việc gửi tiền đền bù qua tổ chức tín dụng xuất phát từ mục đích rất tốt. Tuy nhiên, cách làm này dường như chưa thực sự thuyết phục.
Ông Đỗ Đức Đôi, phó vụ trưởng vụ đăng ký và thống kê đất đai cho rằng: “Quy định tiền bồi thường được gửi vào tổ chức tín dụng và được chi trả định kỳ không quá 6 tháng một lần là không phù hợp với quy định của pháp luật. Quy định như vậy là hạn chế quyền cuả người có đất bị thu hồi đối với khoản tiền được bồi thường thuộc sở hữu của họ”.
Cũng trong Nghị định 197, Bộ TNMT đề xuất với Chính phủ về việc điều tiết phần giá trị tăng thêm cho người có đất bị thu hồi. Theo đó, trong trường hợp thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang mục đích phi nông nghiệp mà có chênh lệch về giá đất thì phần giá trị tăng thêm được điều tiết lại một phần cho người có đất bị thu hồi (tính bằng 20% đến 50% giá trị chênh lệch đó). UBND cấp tỉnh quy định mức cụ thể.
Quy định này nếu được ban hành sẽ có lợi cho người có đất bị thu hồi. Song, theo ông Phạm Sĩ Liêm, phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, điều đó cũng nảy sinh vấn đề: “Người dân mặn mà với những dự án lấy đất để làm kinh doanh vì nó sinh lời. Nhưng còn lấy đất để làm đường, công trình công cộng, không còn khả năng sinh lời thì sẽ như thế nào?”
Tóm lại, việc bảo vệ quyền lợi của người dân sau khi bị thu hồi đất là việc làm cấp thiết nhưng cần phải có những cân nhắc kỹ lưỡng, bởi nếu không sẽ nảy sinh một vấn đề đó là: giải quyết được bức xúc này lại dẫn đến bức xúc khác!
Lan Hương